Thăm nhà họa sĩ Đinh Quân
(Bài post sau)
Thăm nhà họa sĩ Đinh Quân
Tháng Hai 2, 2011Nghị quyết-Cuộc sống, Cuộc sống-Nghị quyết
Tháng Hai 2, 2011Nghị quyết-Cuộc sống, Cuộc sống-Nghị quyết
Cặp từ này hay gặp sau các đại hội đảng. Các trang báo thường giật tít lớn, đại thể, mong/hãy đưa nhanh, đưa sớm các nghị quyết đại hội vào cuộc sống… Thì đúng quá, cuộc sống mới là cái đích quan trọng mà con người hướng tới chứ lý luận, chữ nghĩa và nghị quyết gì gì đi nữa thì người dân cũng chỉ biết thế mà kính nhi viễn chi thôi, còn làm gì hơn được.
Tuy nhiên vì quen tai quen nghe thì báo chí người ta cứ viết đại là thế cho “chắc ăn”. Chứ ít ai dám đặt ngược lại mệnh đề này. Là phải đưa chính cuộc sống vào nghị quyết mới đúng. Khi nghị quyết được cuộc sống “đưa” vào như vậy, chắc chắn những nghị quyết kia thực hiện dễ hơn, thuận hơn. Đơn giản vì như thế là nó xuôi chiều, các lý thuyết lý sự của những chữ nghĩa, nghị quyết sẽ chẳng bị cuộc sống thực tế cản trở, thậm chí bác bỏ.
Cho nên ngẫm nghĩ mà xem, lúc con người xây dựng bất cứ nghị quyết nào nếu biết nghiên cứu kỹ càng cuộc sống thực tế, dựa vào ý chí nguyện vọng của chính người dân trong đời sống thực tiễn thì các nghị quyết làm ra chắc chắn dễ được nhân dân đón nhận và tự giác thực hiện.
Chứ còn như lâu nay, nghị quyết thì rất nhiều nhưng vì tồn tại một khoảng cách giữa chúng với đời sống nên việc thực hiện xem ra khó khăn. Có nghị quyết chưa quán triệt hoặc thực hiện cho có đầu có đuôi thì nghị quyết mới từ trên đã dội tiếp xuống. Dân gian đùa là nghẹn nghị quyết, bội thực nghị quyết là như thế.
Chuyện ông bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc tôi kể trong Entry trước chính là một minh chứng sống động cho một quy trình đưa cuộc sống thực tế của người dân vào trong nghị quyết, xây dựng thành một nghị quyết hợp lòng dân. Không phải hô hào gì mà người dân khi ấy hưởng ứng nghị quyết, thực hiện nghị quyết như việc của đảng là việc của mình, của gia đình mình. Bài học đó còn đáng giá cho đến hôm nay.
Giời đây, với tinh thần phê và tự phê từ các cấp đại hội địa phương, ngành cho đến đại hội toàn quốc vừa qua, mong sao trong xã hội chúng ta sẽ dần dần đi tới chấm dứt tình trạng các quyết định, nghị quyết của lãnh đạo xa rời nhân dân dân, không gắn bó với nhân dân.
NV
Hoành tráng quá
Tháng Bảy 12, 2010Hoành tráng quá
Lâu nay chúng ta nghe qua nghe lại mấy cái chuyện lình xình của một tổng công ty vốn nhà nước. Nói tắt cho dễ, chứ tên cơ quan này nguyên văn là “tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước”, mà viết tắt theo tiếng Anh – cũng là tên người ta hay gọi gọn – là SCIC.
Báo chí ở ta có lúc ầm ào lên chuyện lương thưởng của các vị chỉ huy ở đó, tốn giấy bút nhiều quá, làm to chuyện quá. Người đầu trò bị dư luận khui ra đâu hưởng suýt suỵt tỉ đồng một niên hạn, nghe quá nể. Y chang lương thưởng ở “quốc ngoại”. Chứ thua hoặc kém cạnh nào với lương bên Âu bên Mỹ.
Nhưng sau rồi cũng có giải thích giải trình tí chút. Cỡ bộ trưởng đăng đàn thanh minh thanh nga. Câu chuyện ăn lương hậu thậm chí vang lên cả diễn đàn cơ quan lập pháp cao nhất đất nước. Khối vị dân biểu khó chịu với cách giải thích lấy được của ngành tài chính… Nhưng rồi câu chuyện cũng lại màn màn, rồi sau đó cũng lui lui vào yên lặng, nó như bao chuyện khác mà thôi.
Gần đây tình cờ tôi vào Google tìm một tư liệu nó chẳng dính dáng gì đến tài chính tiền bạc. Thì tôi bất chợt “đụng hàng” phải trang Web này. Thấy nó hay hay, có vẻ như “hoành tráng” quá thì rinh về đây hầu bạn bè xem chơi.
Trước khi bạn xem, xin có vài lời. Ban lãnh đạo SCIC bạn nhác nhìn qua mà xem. Thấy ngay thành phần 8 vị trên ảnh toàn là cỡ chức sắc ông to bà lớn cả. Trong số đó tới 5 vị hàm cấp bộ (1 bộ trưởng và 2 thứ trưởng của bộ tài chính, xếp cạnh với 2 vị thứ trưởng bên công thương và bên kế hoạch đầu tư). 3 vị còn lại thấp hơn, nhưng cũng có thể là ngấp nghé những hàm cấp như trên.
Thành thử cái cách mà dân mình thắc mắc là không có đúng đâu nha! Cơ quan đơn vị của người ta đường hoàng to lớn như thế. Chức năng nhiệm vụ và sứ mệnh của người ta đảm nhiệm quan trọng tới “cỡ” như người ta tóm tắt trên Website, lại với những người phụ trách ở ngôi bự như thế nắm giữ lo toan. Hơn nữa người ta dù hưởng lương cao bổng hậu ở việc khác rồi chăng nữa, nay lại vất vả kiêm nhiệm thêm mệt chết người thì có nhận thêm khoản lương hơi cao cao một chút ở một công việc phức tạp như quản lý vốn (tức tiền bạc, mà bạc tiền nó “bạc” lắm mà) thì cũng là đáng lắm chứ. Đúng tầm đúng cỡ cả chứ, còn trao cho cấp bậc thấp thì làm sao được? Quái, dân mình cứ có thói hay chuyện, vẽ chuyện cứ xía vô làm gì thế nhỉ.
Đúng không nào. Thế thì Hầu chuyện tôi chỉ còn biết kêu trời. Đều chịu là nó tầm cỡ thật, “hoành tráng” thật.
Nguyễn Vĩnh
———————–
Mời bạn xem: http://www.scic.vn/index.php?option=com_content&view=category&layout=blog&id=28%3Aban-lanh-o&Itemid=7
Luật của trò chơi
Tháng Bảy 12, 2010Luật của trò chơi
Trước World Cup khai mạc, trên tivi được xem lại mấy trận cầu tiêu biểu của WC lần trước ở CHLB Đức. Tôi chú ý đến trận Anh thắng Ecuador 1-0 ở vòng 2 để vào tứ kết vì có những chuyện để nói. Không phải chỉ trong bóng đá mà cả ở ngoài bóng đá.
Trận thắng là nhờ tài đá phạt thần sầu của David Bekham. Quả phạt trực tiếp cách khung thành tới 30 mét mà Becks đá cứa lòng, bóng đi rất căng theo hình vòng cung vào lưới Ecuador sau khi va cột dọc. Thủ môn đối phương đổ người đúng hướng mà chịu chết. Bekham cho đến thời điểm đó đang còn là một trong những cầu thủ bóng đá đắt giá nhất thế giới.
Thế mà chỉ sau đó không lâu, đôi chân vàng này đã phải tìm đến nước Mỹ chơi cho một câu lạc bộ không mấy tên tuổi. Gần đây Becks có trở lại với bóng đá châu Âu theo một hợp động mượn tạm chơi ở Serie A, nhưng hình ảnh của anh cứ dần mờ nhạt.
Tại WC 2010 Nam Phi lần này dù có tên trong đội tuyển Anh nhưng do chấn thương nên anh chỉ làm khán giả. Tôi nghĩ cũng may cho anh, bởi với phong độ như thời gian vừa qua, nếu anh dấn vào giải cấp hành tinh này một lần nữa có khi chẳng vinh quang gì thêm mà lại nhạt nhòa mức nữa danh tiếng cho một ngôi sao đã có thời rực sáng.
Viết những dòng trên tôi cũng không định sa đà nhiều nữa vào chuyện bong đá, chuyện World Cup. Dù đó là một đề tài hay, rất hay. Mà tôi chỉ muốn nói về chuyện Bekham và nghĩ ngẫm một chút quanh ngôi sao bóng đá quá tuyệt vời này.
Môi trường bóng đá nghiệt ngã như thế đấy. Những đôi chân được mua mỗi mùa chuyển nhượng tiền chục, tiền trăm triệu Euro/USD mà cũng chỉ trụ được dăm mười năm là cùng. Tức đội ngũ cầu thủ cỡ thế giới này phải đua tranh khủng khiếp để có “chỗ đứng dưới mặt trời”. Đâu phải chỉ Bekham mới phải trở lui vào hậu trường làng túc cầu mà còn nhiều tên tuổi khác của bóng đá đỉnh cao trước hoặc sau thời Beck cũng đều chịu chung số phận như vậy.
Chẳng phải một lúc nào đó còn đâu những Zidane, Bathez, Ronadinho, Oliver Kahn. Xa hơn nữa cũng đâu còn Pele, Maradona, Platini, Beckenbauer… Tất cả họ, những ông vua sân cỏ một thời, cùng đều chung một quy luật đua tranh “tuyển lựa” và “đào thải” không sao đảo ngược được! Thế hệ trẻ mạnh mẽ và tài giỏi hơn lúc họ đã xuống dốc phong độ sẽ ngay lập tức thay thế họ.
Điều này nghĩ kỹ là vô cùng tự nhiên và hoàn toàn lành mạnh. Muốn cuộc sống tiến lên, không thể cứ mãi mãi ngưỡng mộ một ngôi sao sáng, thậm chí là rất sáng đi nữa. Nó phải mở đường cho những ngôi sao mới. Thế mới là bóng đá đỉnh cao. Chỉ có như vậy mới làm cho bóng đá mãi mãi là môn thể thao có tính hấp dẫn hàng tỉ hàng tỉ người hâm mộ trên toàn thế giới.
Bóng đá một trò chơi thôi, nhưng là một trò chơi đòi hỏi năng lực phi thường của con người.
Vắt kiệt sức và tài năng cho sự nghiệp, nhiều cầu thủ bóng đá tài giỏi cỡ thế giới đến một lúc nào đó vẫn bị “gạt ra lề” khi phong độ đi xuống. Họ đều tự nguyện chấp nhận cái luật khắc nghiệt này. Giả sử trong số họ có người muốn không chấp nhận cũng không thể nào được. Cái luật của trò chơi không bao giờ là một trò đùa.
Trong nhiều nghề nghiệp khác với bóng đá thường cũng theo quy luật đào thải đó. Chỉ có đào thải – tuyển lựa, rồi tuyển lựa – đào thải một cách liên tục thì một cái nghề nào đó mới có người giỏi tới đầu quân làm việc và hăng say cống hiến.
Nhưng đáng suy nghĩ là cái nghề lãnh đạo quản lý ở ta nó không được như vậy. Càng ở những vị trí béo bở hiện tượng ngồi ỳ giữ ghế lâu nay là phổ biến. Nó trốn tránh sự đào thải đôi khi rất thách thức, rất trâng tráo vì có những thế lực bênh che cho nó.
Có thể dẫn chứng nhiều trường hợp như thế đã được công khai trên truyền thông báo chí nên không cần nêu lại đây cho bài viết dài dòng. Mọi người đều biết ngay ở diễn đàn quốc hội cũng nhắc tới những hiện tượng xấu như chạy chức chạy quyền, nạn ô dù, nạn bằng cấp giả để thăng quan tiến chức… Dù cũng chẳng đi tới một giải pháp cụ thể nào nhưng nó gióng hồi chuông cảnh báo ở cấp quyền lực nhà nước cao nhất một hiện tượng xã hội rất đáng xấu hổ.
Việc ở các cơ quan nhà nước người kém tài nhưng trong dây dợ, khéo luồn lọt lâu nay vẫn cứ chiếm ghế. Như vậy người có tài không thể chịu đựng nổi cái sự dẫn dắt lẽ ra phải đảo ngược lại mới đúng ấy. Nên họ đã tìm mọi cách ra đi. Trong nhiều cơ quan nhà nước đã ngày càng có nhiều hiện tượng chảy máu chất xám.
Chợt nghĩ nếu môi trường đáng lẽ cần nhất có người tài thực sự để lãnh đạo quản lý, để làm việc cống hiến đưa đất nước tiến lên có được cách thải loại nghiệt ngã như trong bóng đá đỉnh cao thì tốt biết mấy. Nghĩa là giỏi thì luôn được dùng và phát huy sở trường. Một khi chững lại, chứ không nói đến tụt lùi, là sẽ ngay lập tức bị thay thế.
Mong cái luật của trò chơi này được vận dụng thì quý biết bao nhiêu cho xã hội chúng ta.
Nguyễn Vĩnh
Lịch sử là sòng phẳng
Tháng Sáu 4, 2010Lịch sử là sòng phẳng
Tuần trước tôi nhận được thư mời dự buổi thuyết trình của một bạn Pháp gửi qua hộp thư e-mail. Có thể do mấy người Pháp quen cũ họ cho địa chỉ hòm thư tôi chứ thực ra tôi không quen người mời.
Người mời là một nhà nghiên cứu. Tên ông là Pierre Daum. Trong các tài liệu ông gửi kèm thư mời, tôi được biết ông mới in một cuốn sách về lịch sử vào năm ngoái tại Pháp, cuốn Immigrés de force, Les Travailleurs indochinois en France, 1939 – 1952 (tôi tạm dịch « Dân nhập cư cưỡng bức – Những người lao động xứ Đông Dương ở Pháp – từ 1939 đến 1952 »). Sách do Nhà xuất bản ‘Actes Sud’ ấn hành – Paris, tháng 5/2009.
Điều gây ấn tượng với tôi chưa phải là sách, vì đâu đã có sách đọc. Mà chính là lịch công việc của ông Daum. Chỉ với hai tuần lễ ở nước ngoài, nhà nghiên cứu này đã lên lịch tới 6 buổi thuyết trình liên tục trên suốt dải đất từ Nam ra Bắc Việt Nam. Mới đầu ông nói ở Huế (1 buổi), rồi quay vào Sài Gòn (3 buổi) và cuối cùng ông trở ra để kết thúc tại Hà Nội (2 buổi). Điều đặc biệt, và đó cũng là cách chuẩn bị chu đáo, là các buổi thuyết trình của ông sắp tới đều công bố được tên tuổi một số nhân vật danh tiếng của Việt Nam đã nhận lời dự.
Tôi nghĩ với lao động trí óc, lại thuộc lĩnh vực khoa học xã hội luôn có sự tế nhị và phức tạp thì việc đề ra một thời gian biểu làm việc nặng và căng như thế là đáng nể.
Trở lại chủ đề ông Pierre Daum sẽ thuyết trình. Đó là vấn đề người nhập cư cưỡng bức ở xứ Đông Dương vào nước Pháp những năm đầu thế chiến thứ 2. Họ buộc phải đến Pháp làm thợ, lao động cực nhọc trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt như “nô lệ”. Ở Việt Nam, là người ngoại đạo của sử học nên tôi cũng không biết gì nhiều về một mảng sử liệu quan trọng này. Tôi cũng không rõ có nhà sử học hoặc công trình nghiên cứu nào ở ta có đề cập sâu về vấn đề trên hay chưa?
Còn ông Pierre Daum thì dành tới 3 năm cho một công việc như vậy. Ông mở nhiều đợt sưu tầm tài liệu tại các vùng ngoại ô của thủ đô Paris và thành phố cảng Marseille ở Pháp. Ông Daum còn tới Hà Nội và một số làng mạc xa xôi khuất nẻo ở Việt Nam để nghiên cứu và thẩm tra “thực địa”.
Đáng kể nhất trong công trình nghiên cứu của mình, ông Pierre Daum đã tìm ra và trực tiếp gặp gỡ 25 người Việt Nam từng là lao động nhập cư “cưỡng bức” thời kỳ lịch sử đó. Đây có thể là những chứng nhân sống cuối cùng của lớp người lao động khổ sai tại Pháp những năm 1939-1952.
Biết được thêm là hồ sơ khoa học này đã từng là vấn đề bị quên lãng 70 năm nay ở nước Pháp. Với công trình của ông Baum, một “trang sử” thuộc địa Đông Dương được hé lộ. Khía cạnh hé lộ không phải là không “nhạy cảm” – là việc những người lao động thuộc địa bị cưỡng bức sang Pháp – và hơn thế nữa, những người này bị chính quốc sử dụng như nô lệ. Chắc chắn đó là điều chẳng người Pháp nào muốn khui ra trưng ra. Vì đâu có vinh hạnh gì cho nước Pháp. Càng hiểu sự im lặng bảy thập kỷ là có lý của nó! Và càng thấy lương tri trong sáng của những nhà nghiên cứu khoa học lịch sử chân chính ở Pháp, những người như ông Piere Baum.
Trong công trình, ông Daum còn cho biết nước Pháp khi bước vào đại chiến thế giới thứ hai không những cần lính tráng mà cần cả những người công nhân để thay thế cho số người Pháp bị động viên ra mặt trận. Họ – những lao động thuộc địa mà chủ yếu từ Việt Nam – đã bị cưỡng bức sang Pháp, ban đầu cập cảng Marseille, bị nhốt vào nhà tù Baumettes ở đây rồi bị phân về các công binh xưởng thuộc bộ quốc phòng trên khắp nước Pháp.
Về số lượng, ngay năm 1939 đã có 20 nghìn người được đưa gấp sang Pháp. Lúc đó nước Pháp đã bị cuốn vào chiến tranh. Các người thợ thuộc địa da vàng này phải làm việc trong những điều kiện cực khổ nhất, không lương bổng không bảo hiểm… Sau khi sử dụng, chính quyền Pháp đã trả họ về nước từng đợt một, suốt từ năm 1946 và kéo dài tới năm 1952 là đợt cuối cùng. Người ta chỉ ghi nhận chừng một ngàn người được chọn ra để định cư ở Pháp mà thôi.
… Đại thể bức tranh lịch sử như thế lần đầu tiên được khởi lộ với sự chân thật của nghiên cứu điều tra và đi kèm các chứng cứ sử liệu xác thực. Các buổi diễn thuyết của ông Daum dù chưa diễn ra, nhưng với lời giới thiệu trước về nội dung như trên, người Việt Nam chúng ta hiểu cái thông điệp gửi đi của giới nghiên cứu lịch sử ở Pháp về thời kỳ thuộc địa Đông Dương cũng như trách nhiệm của nước Pháp đối với những vấn đề thuộc địa.
Như vậy cũng có nghĩa trong nghiên cứu ở Pháp người ta không giấu đi những gì thuộc khách quan lịch sử, không chối bỏ trách nhiệm tinh thần mà các thế hệ cha anh của họ đã một thời gây ra cho các dân tộc thuộc địa ở Đông Dương. Lịch sử và sự thật lịch sử tồn tại như nó đã trải qua. Không ai hoặc thế lực nào trong xã hội có thể bưng bít che giấu hoặc ngụy tạo.
Trong giới sử học nước ta tôi cũng nhớ có một phát biểu, đại ý là lịch sử và sự thật lịch sử lúc này lúc khác vì những lý do nào đó có thể “chưa được”/”chưa phải” là lúc nói ra, nhưng “một khi đã nói ra thì phải nói đúng sự thật”.
Nhân câu chuyện thuyết trình của người bạn Pháp chúng ta thử ngẫm nghĩ kỹ mà xem. Sẽ thấy chúng ta vẫn còn nợ nần không ít trước lịch sử và các vấn đề của lịch sử của chính chúng ta. Tuy nhiên chúng ta vẫn có niềm tin “cái gì của Cesar” sẽ đến lúc được “trả về cho Cesar”. Lịch sử trước sau bao giờ cũng sòng phẳng.
Nguyễn Vĩnh
———————-
Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/nguyenvinh-nguyenvinh/article?mid=1339&prev=-1&next=1338
Ơ hay… các vị (!)
Tháng Năm 30, 2010Ơ hay… các vị (!)
Qua một ngày Chủ nhật không mấy vui khi lướt lại mấy cái tin “chẳng muốn tin” của tuần.
Nào là dân mình, cả thiếu nhi nữa, bên con sông Pôkô (tôi nhớ dòng sông đã vào lời hát đẹp đẽ một thuở) phải sang sông bằng dây cáp, treo mình lên đó mà đu qua đu lại(!).
Rồi ông “ban quản lý” Hồ Gươm được cấp phép xây trụ sở 3 tầng (và 1 tầng hầm) ở sát cạnh cái hồ nước xanh độc đáo của Thăng Long Thành lẽ ra phải được bảo vệ để giữ cho được là lá phổi xanh.
Cũng vẫn quanh Hà Nội thôi, chỗ này người ta sơn phết bằng sơn bằng vôi ve lên nhà cửa cổ và cả chùa chiền miếu mạo…; chỗ kia thì lật gạch lát hè (còn mới, tốt) cũng là để đặt lại viên gạch viên đá lên trên cái nền cát sơ sơ sài sài…
Ơ hay, đất nước mình kinh tế tăng trưởng, chỗ này chỗ kia ầm ầm đổ tiền đổ của. Đều cả trăm, ngàn tỉ cho cầu cho đường mà cái vùng đất Kôn Tum từng là căn cứ kháng chiến kia sao dân không có cầu phà đi lại? Đến nỗi phải liều mạng làm diễn viên xiếc đến mức khó tưởng tượng như vậy?
Rồi chuyện cái quận sở tại lẽ ra phải bảo vệ môi trường không gian xanh cho Hồ Gươm hơn ai hết lại đi cấp phép cho một công trình mà nếu được xây lên chỉ làm cho khung cảnh hồ thêm sự bức bối chật chội vì lại thêm bê-tông thêm gạch đá bịt bùng.
Và cũng không biết cái nguyên tắc nào, cái cơ chế chi tiêu cho thủ đô Hà Nội nó ra làm sao mà con dân chúng ta cứ “khổ lắm”, “nói rồi nói mãi” (mà chẳng mấy khi có câu trả lời rõ ràng) là cái chuyện hè đường hè phố. Cứ đào lên đặt xuống. Mau mau đều đều, lặp đi lặp lại. Chữa hoài, vá víu mãi mà chẳng thấy dứt, thấy xong… Hình như cứ có đợt gạch mới đá mới nào, có kinh phí có tiền được duyệt là người ta lật vỉa hè lên. Làm mới. Làm cả khi hè phố chưa kịp cũ. Vừa mới ngày nào làm, quay đi quay lại nay đã lại làm. Điệp lại mãi nên cũng chẳng ai ở ngay đường phố mình ở còn nhớ là bao lâu một lần làm lại nữa.
Mà cái kiểu làm mới cũng rất kỳ lạ. Chỉ san san lớp cát sơ sài. Ghép gạch ghép đá cho xuống là… nghiệm thu. Là xong. Đa phần không vôi vữa xi măng, cũng OK. Cốt cho nó… chóng xô lệch, chóng hỏng. Thì càng tốt. Rồi lại có kinh phí để làm hè phố đợt mới.
Nhân chuyện “làm mới”, thì chuyện này còn kỳ hơn nũa. Nhà phố cổ, đền chùa miếu phủ trên đất Thăng Long xưa cổ kính rêu phong nay đang được “mới hóa”. Tức là có kinh phí thì ta làm đại. Thì sơn phết, tô vẽ phấn son cho nó đẹp nó trẻ. Như người ta có… “con gái đi lấy chồng mà” (ông văn hóa Hà Nội ví von thế có hay không nào?). Đà này không khéo ông cụ tổ ngàn năm tuổi Thăng Long mà thế giới nhiều người mơ có lại biến thành chú hài nhi… 1 tuổi ở kỳ đại lễ. Kinh hoàng!
Đúng là cái nước mình nó lắm chuyện… “lạ đời”. Mà như thế thật, đúng thật cả đấy.
Nhưng mà “ơ hay”, thế các vị… Là các vị – như các cụ làng tôi xưa hay nói – cứ là chẳng biết “đằng mù” nào sất đó thôi, chứ người ta làm sao làm gì là đều có lý cả đấy.
Thì có làm những dự án lớn, cả trăm-nghìn tỉ, các khoản chi quản lý, chi trách nhiệm mới có phết phẩy “hoành tráng” ăn theo. Chứ người ta thiết gì đi vào ba cái cầu phà nhỏ lẻ. Tiêu pha ở đấy chỉ ít triệu bạc thì sơ múi nhằm nhò gì mà phải hăng hái nhao vào?
Còn khi người ta bỏ tiền xây trụ sở ở những chỗ “đắc địa” như ven Hồ Gươm là đúng phóc đấy. Thế sai gì nào? Là xây cho ban quản lý Hồ Gươm có chỗ làm việc, hợp lý nào hơn? Nhưng cái đích nhằm tới là các “di-vu” sớm muộn sẽ biến thái. Chứ ai lại “vích” đến mức để cho mấy vị công chức (của người ta) sớm chiều xách túi mang cặp ra ngồi hóng gió hồ. Đâu đó trong quận người ta thừa sức bố trí được cho họ ngồi. Còn chỗ xây mới, của đống đồng tiền mỗi mét vuông, thì khi ấy lại trình bẩm “đổi công năng” tí tị là…xong. Ai mà hoài phí mảnh đất vàng mười như vậy chỉ để người ngồi mấy cái bàn giấy.
Chuyện đào hè có gì nào? Có cơ chế xin được kinh phí để cho thủ đô văn minh hiện đại thì chúng tôi trình bẩm lên. Được duyệt thì còn tạo công ăn việc làm cho bà con nông nhàn (Hà Nội có vùng nông nghiệp nông thôn rộng lắm, tuyển nhân công loại này giờ dễ ợt). Người ta có làm dối dá thì cũng là “đỡ tốn kém” cho nhà nước thôi mà. Dôi thừa đôi chút ra thì có cả trăm cách “tiêu khéo”. Nộp lại làm gì cho khó sổ sách, lôi thôi quyết toán. Miễn sao “trên” lơ cho. Dưới thì hể hả, cả làng. Đều vui là được. Có chết cái làng Vũ Đại nào đâu.
Tóm lại chỉ là “ơ hay”, kính các vị nhé! Nhất là các vị viết blog chơi Web(!).
Sao các vị cứ hay vẽ chuyện. Cứ suy ra lắm điều làm vậy! Chúng tôi hỏi, thế các vị phơi bày ba cái chuyện lạ (mà ai cũng biết này) ra để làm gì? Rách việc quá.
Nguyễn Vĩnh
———————–
Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/nguyenvinh-nguyenvinh/article?mid=1338&prev=-1&next=1337
Không chỉ là cái tên
Tháng Năm 27, 2010Không chỉ là cái tên
Có một chuyện tôi định viết từ lâu mà rồi cứ chần chừ. Vì có chút thông tin chưa thật rõ nên băn khoăn cân nhắc. Song nghĩ việc đời cũng đừng quá cầu toàn. Cứ thử nêu ra đây bạn bè ai biết nói thêm cho một câu tin là sẽ hay hơn là giữ nó trong lòng.
Với những người sống ngoài bắc dù có vào Sài Gòn nhiều lần cũng khó mà biết được rành rẽ phố phường trong đó. Cũng như Hà Nội mình, nội thành không thể so với Thành phố HCM về nhiều mà nào mấy ai ở thủ đô dám bảo mình đã đi hết phố xá Hà Nội.
Nên chắc cũng chẳng nhiều khách vãng lai Sài Gòn mà để ý kỹ đến cái đoạn đường khuất nẻo này. Đường phố chỗ đó không to tát gì, nằm trên đất quận 3 gần sát con kênh Nhiêu Lộc. Kênh này thì nổi tiếng nhiều người nghe tên. Nhưng oái oăm cái điều nổi tiếng nhất của nó lại là nổi tiếng vì bẩn thỉu, nước tù đọng và là nỗi ngại ngùng mỗi khi ai đó có việc phải chạy xe dọc con kênh. Chẳng may gặp lúc nóng bức hoặc ngày trở trời thì không khổ cực nào hơn là phải hít hà cái mùi hôi tanh nồng nặc.
Nhưng chuyện tôi muốn nói ở đây lại không phải chuyện kênh rạch. Mà là chuyện cái tên của đường phố.
Chúng ta hãy cùng trở lại với đoạn đường phố này. Nếu đến đường Lê Văn Sĩ, chỉ cần bạn tiến lên giữa cây cầu chỗ này là thấy được hai con đường. Chúng chạy song song với nhau dọc theo hai bên bờ con kênh. Chỉ có thế thì là chuyện quá bình thường. Đâu có gì đáng nói đáng kể.
Ở đây cái điều rất đặc biệt, là cái sự không bình thường chính là hai cái tên được ghi cho hai con đường kể trên. Phải nói ngay đó không phải đơn thuần chỉ là hai cái tên được ghi. Quan trọng hơn là danh xưng này nó mang theo một thông điệp nhiều ý nghĩa với người dân Việt lúc này – “Đường Hoàng Sa” và “Đường Trường Sa”. Tức là không đơn giản như một cái tên đặt khác cho bất cứ đường phố nào.
Đương nhiên còn nhiều điều phải bàn phải góp ý kiến về việc chọn nơi này đặt tên cho hai con đường mà tôi vừa nhắc tới.
Tại sao không tìm những đường phố lớn rộng hơn, khang trang hơn? Tại sao không chọn những vị trí không gian tiêu biểu của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh để làm nổi bật hơn hai cái tên có ý nghĩa thiêng liêng kia? Nhưng thôi, đó không phải là mục đích tôi muốn nói tới trong bài viết nhỏ này.
Điều tôi muốn nói là qua chuyện Sài Gòn có tên phố Trường Sa Hoàng Sa thì không biết đã có bao nhiêu tỉnh thành phố thị xã ở nước mình có được cách đặt tên như vậy? Tức là việc đặt tên Hoàng Sa Trường Sa cho đường phố, cho khu dân cư; hoặc là đặt các tên đó cho một trường học một bệnh viện ở địa phương mình có nên nâng lên thành một chủ trương một nguyên tắc cho hoàn cảnh cụ thể lúc này của đất nước chúng ta hay chưa?
Theo dõi báo chí tôi cũng mới biết lác đác nơi này nơi kia có những cái tên như vậy. Có nơi còn mang đặc sản sản vật ở các đảo trên quần đảo Trường Sa về bày đặt trang trọng tại thị xã thành phố mình, phần nhiều là ở các tỉnh miền Trung nơi dù sao cũng liền kề với Biển Đông đang ngày đêm dậy sóng. Tuy nhiên có vẻ như chúng ta còn có sự dè dặt nào đó. Hoặc như trong việc này như còn có sự quá lo xa về một sự phức tạp rắc rối nào đó trong ứng xử đối ngoại chẳng hạn.
Nhân đây tôi cũng tự đặt ra câu hỏi với mình thôi là, không biết được cấp nào, giới nào ở trong Thành phố HCM nghĩ ra, đã đề đạt trình bẩm lên các cấp có thẩm quyền để cho cái khu phố cụ thể chỗ kênh Nhiêu Lộc kia gắn tên hai con đường là Hoàng Sa Trường Sa như vậy? Bởi mọi người đều biết việc đặt tên đường phố không bao giờ là việc tự phát mà phải có chủ trương hẳn hòi, phải là cấp nào đó mới thông qua được mới duyệt y được chứ đâu phải chuyện làm ngẫu hứng địa phương bản vị. Vậy khi Thành phố làm như thế có vướng mắc trở ngại gì không. Hoặc lúc đề đạt đặt tên đó là vào ngay khu phố này hay cũng đã gợi ý đặt vào những đường phố khác rộng rãi đàng hoàng hơn mà không được thông qua thì đến giờ tôi chắc rất nhiều người khác cũng đâu được biết..
Nhưng quả thực, chỉ riêng việc Thành phố HCM của chúng ta có được hai đường phố mang tên Hoàng Sa và Trường Sa tại dọc bờ con kênh Nhiêu Lộc cũng đã là một điểm son lớn của Thành phố lớn nhất phương Nam này. Đặt tên như vậy là một cách nhắc nhở, là một biểu thị tinh thần bảo vệ chủ quyền biển đảo thường trực cho mọi công dân thành phố. Đây là việc đáng phải làm.
Nói vậy bởi là người sống ở Hà Nội, tự nhiên tôi có liên tưởng tức thì. Không biết thủ đô mình đã có con phố con đường nào được đặt tên là Trường Sa Hoàng Sa hay chưa? Tôi nghĩ là chưa.
Nếu tôi nghĩ vậy là không chính xác thì đó lại là điều ta mong như thế. Bởi như vậy thủ đô Hà Nội đã nhớ tới hai địa danh thiêng liêng này mà có cách làm cho mọi người, nhất là giới trẻ biết đến và nhớ đến hai vùng quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Còn đúng là chưa có thì thủ đô chúng ta còn đợi chờ gì nữa mà không chọn ngay ra những nơi chốn, đường phố, công trình xứng đáng để đặt tên hai địa danh kia ở thủ đô chúng ta?
Thật ra thì cái việc đặt tên cho những công trình do con người tạo ra bảo là việc bình thường thì cũng rất là bình thường thôi. Bởi không ai ngây thơ cho rằng chỉ bằng vào việc đặt tên cho nơi này là Hoàng Sa nơi kia là Trường Sa thì ta đã có thể giành giật lại chủ quyền. Tuy nhiên việc cho đặt những cái tên như vậy trên mọi miền đất nước vào hoàn cảnh Biển Đông đang đêm ngày dậy sóng như lâu nay là một cách nhắc nhở kịp thời tất cả các thế hệ người Việt Nam về một nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng, tôi thiết nghĩ là một công việc các địa phương rất nên làm.
Nguyễn Vĩnh
Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/nguyenvinh-nguyenvinh/article?mid=1337&prev=-1&next=1325
Lựa chọn bằng lá phiếu
Tháng Năm 13, 2010Lựa chọn bằng lá phiếu
Không những nước Anh mà thế giới cùng trầm trồ về người trẻ nhất từ gần 200 năm nay của nước này vừa lên làm thủ tướng. Ông David Cameron bước vào tuổi 43 đã đứng đầu một chính phủ của nhóm G7, tức các cường quốc công nghiệp thật sự, điều ấy không phải dễ.
Càng không đơn giản khi chúng ta biết rằng các đảng phái chính trị của nước này một khi tranh cử để giành quyền lực đều vô cùng quyết liệt, không ai nhường ai đâu. Nên Cameron đã trở thành một hiện tượng chính trị nổi bật của Vương quốc Anh.
Điều đáng nói hơn là ông thủ tướng Cameron chỉ mới là nghị sĩ quốc hội, bắt tay công việc lập pháp mới từ năm 2001. So với nhiều chính khách lão luyện khác khi bước được vào một chức vụ chủ chốt của quốc gia, ông Cameron mới như một anh lính trẻ trong nghề chính trị thực sự.
Dĩ nhiên trước đó ông đã gia nhập đảng Bảo thủ, tham gia mảng quan hệ công chúng của một công ty truyền hình Anh. Vậy thôi.
Thế mà qua tổng tuyển cử, đảng của ông đã về nhất nước Anh. Phe đảng đang cầm quyền không liên minh được với đảng về thứ ba để lập chính phủ mới trong khi đảng ông Cameron lại nhận được sự hợp lực này, nên ông đánh bật được thủ tướng đương nhiệm.
Một trò chơi chính trị, đúng là một trò chơi, nhưng cứ đúng luật là được tôn trọng.
Nhưng có thể điều đáng nói nhất ở ông Cameron là ông đã được “đào tạo rất cơ bản” để làm chính trị ở Anh – một quốc gia giàu mạnh và dân chủ.
Ngay từ nhỏ ông được học tại một trong những trường tư truyền thống nhất của Anh quốc rồi sau đó vào đại học Oxford lừng lẫy danh tiếng. Nhận được mảnh bằng loại ưu ngành chính trị, triết học và kinh tế ở đây.
Nên nhớ nhiều tổng thống, thủ tướng không những của Anh mà của nhiều nước trong Liên hiệp Anh (gọi là khối Commonwell-Thịnh vượng chung) như Ấn Độ, Úc Đại Lợi… thường là qua ngôi trường này học hành. Đủ thấy đấy là những điểm cộng điểm son của một nền giáo dục chuyên nghiệp và chất lượng cao “thật sự” chứ không phải loại các trường chỉ thích hô hào khẩu hiệu.
Biết đây là chuyện của nước người ta nhưng tôi cứ nghĩ ngợi vẩn vơ…
Những cơ hội cho người trẻ ở nước người ta là vậy. Ở Mỹ ở Anh và nhiều nước Tây Âu khác là như vậy. Giới tinh hoa được đào tạo rèn luyện trong những môi trường hoạt động đầy tính chuyên nghiệp. Và nhất là luôn cạnh tranh ghê gớm. Có như thế mới có thể xuất hiện được các hiện tượng đột xuất, không nói là kỳ lạ đến như vậy.
Những kẻ giỏi thật, là tinh chất thật của sự sàng lọc xã hội thì mới có cơ thắng trong cuộc ganh đua. Mà giỏi thật thì không hẹn ngày hẹn tuổi. Và nhất là không tính điểm về gốc gác xuất xứ giai cấp thành phần – trong khi thực chấtcác sự xếp sắp quy định này đến nay cũng khá là mờ nhạt, phân một ai rạch ròi là thành phần nguồn gốc này nọ e là khiên cưỡng trong một xã hội hiện đại và đang chuyển động dữ dội.
Như trường hợp Obama ở Mỹ, người tổng thống quyền lực nhất thế giới này thắng cử đâu có nguồn từ con nhà quyền thế. Trái lại ông chỉ là một người gốc da màu của cha ông từ châu Phi đen.
Có được những điều đó bởi bên các nước người ta là phổ thông đầu phiếu, là bầu cử tự do. Sự lựa chọn của người dân là công khai. Người thắng cử phải chịu sự sàng lọc khắt khe bằng lá phiếu của cử tri. Các xu hướng chính trị khác nhau không hề cản trở gì tới cách bầu và sự thắng cử của các ứng viên. Mà giành lá phiếu ở các quốc gia đó không hề dễ dàng, bởi mặt bằng dân trí của các nước họ đâu có tồi.
Còn ở chúng ta, như nhiều vị từng trong cơ chế quyền lực một thời đã nói và viết công khai trên các phương tiện truyền thông chính thức của ta cho thấy công tác tổ chức cán bộ vẫn còn ì ạch và theo lối mòn lối cũ. Nên ít khi xuất hiện những trường hợp nhân tài đột biến trong nghề hoạt động chính trị.
Cũng nên nghĩ một cách nghiêm túc qua những trường hợp thắng cử của Anh vừa rồi và các trường hợp thắng cử ở các nước khác trên thế giới.
Nghĩ để rút kinh nghiệm và cải tiến đổi mới trong các hoạt động của xã hội chúng ta chứ không vì mục đích gì khác.
Nguyễn Vĩnh
Nghiên cứu Biển Đông cũng là cách giữ chủ quyền
Tháng Tư 11, 2010Nghiên cứu Biển Đông cũng là
cách giữ chủ quyền
Năm ngoái ngày 21/10, tôi viết một Entry, rồi trích tin của BBC về khả năng có một cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông (http://vn.360plus.yahoo.com/nguyenvinh-nguyenvinh/article?mid=807).
Mấy dòng viết hồi đó như vậy, từ dự cảm cá nhân, tôi hiểu trên-dưới trong-ngoài bấy lâu nay có nhiều thế kẹt cho chúng ta. Bối cảnh trong nước và quốc tế, tương quan lực lượng, các ưu tiên phát triển kinh tế trong thời khủng hoảng càng làm khó thêm sự lựa chọn đối ngoại. Lựa chọn thế nào đó phải giúp cho sự ổn thỏa với láng giềng. Nên có thể nói suốt từ 1998 trở đi, liên tiếp là các đàm phán biên giới trên bộ rồi trên biển với 3 quốc gia lân bang. Đây cũng là phương cách thoát ra những thế khó xử mà các nước chung biên giới nào cũng thường mắc phải.
Với Lào và Campuchia thì không có nhiều vấn đề lắm… Riêng với quốc gia lớn mạnh phương Bắc, ngay trên đất liền cũng còn những sự lấn lướt hoặc so kè từng li từng tí trên bản đồ được vẽ với ta.
Hồi còn đang đi làm, tôi từng được một người bạn làm công tác biên giới tâm sự lại. Anh nói rằng, họ một quốc gia đất đai rộng mênh mông như vậy nhưng động đến một bụi cỏ, một bờ suối là họ tính lên tính xuống đến là khiếp; nên phải nói là rất khổ cho anh em đàm phán, cứ cò kè cò cưa như bà hàng xén, rồi cũng phải đến lúc ngã giá với nhau; tuy nhiên thế nào thì nguyên tắc bao giờ cũng là nguyên tắc, vì thế có những lúc có cảm giác cứ kéo dài như vô tận (kéo dài các cuộc đàm phán biên giới).
Trở sang biên giới trên biển, trên các đảo thì còn rất nhiều vấn đề, rất là nhiều chuyện. Từ phân giới trên vịnh Bắc Bộ, cửa ngõ liền kề của ta cho đến 2 quần đảo Hoàng Sa (HS) và Trường Sa (TS) đều còn những việc thật sự đau đầu.
HS thì TQ đã chiếm từ tay quân đội Sài Gòn năm 1974 trước khi ta giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. TS thì năm 1988, lợi dụng lúc ta thế yếu, quan hệ Việt-Trung còn căng thẳng, họ đưa hạm thuyền đánh chiếm một lúc hàng chục đảo mà ta đã làm chủ từ sau chiến thắng 1975, họ đã làm hơn 60 chiến sĩ hải quân của ta ngã xuống nơi đây, nói gì thì nói đã gây thêm một vết nhơ trong quan hệ láng giềng với ta.
Không những Việt Nam và Trung Quốc có tranh chấp trên Biển Đông mà 3 quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng lên tiếng đòi một phần chủ quyền ở TS, cụ thể họ đã có mặt trên thực địa tại một số hòn đảo của TS (là 3 nước Philippines, Malaysia, Brunei và lãnh thổ Đài Loan).
Ấy vậy mà trong quan điểm chính thức, nước láng giềng vẫn chỉ một mực là sử dụng cơ chế đàm phán song phương mới là cách thích hợp. Bao nhiêu nước dính vào, liên hệ liên quan đến quyền lợi chủ quyền thiêng liêng mà họ cứ tuyên bố xanh rờn như vậy. Kể cũng lạ, rất lạ.
Tuy nhiên với những thực tiễn quan hệ cỡ như vậy, tôi vẫn nghĩ đến một lúc nào đó, quan điểm công khai của chính quyền ta sẽ khác. Tức sớm muộn phải đưa chuyện tranh chấp kia cho quốc tế biết đến.
Nói vậy bởi tôi cho rằng hơn ai hết, những người cầm lái đất nước qua nhiều thế hệ biết rõ và cũng coi như ngấm đòn từ người láng giềng sẵn có trăm phương ngàn kế này.
Suốt bao năm qua, các cú thụi ngầm của người bạn hàng xóm về lãnh thổ, biển đảo phải nói là thâm độc và ít nhiều có hiệu quả đối với họ, ít nhất là họ làm được với dư luận trong nước họ (hãy đọc những bài phản ánh chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán trên một số Website, báo mạng của TQ đã được các nhà nghiên cứu VN dịch lại).
Cho nên năm ngoái một mặt Trung Quốc cử học giả đến dự hội thảo quốc tế tại Hà Nội (tức hội nghị về Biển Đông do Học viện ngoại giao VN và Hội Luật gia VN tổ chức vào đầu tháng 11/2009 mà Entry ở trên tôi đã nhắc đến), mặt khác họ liên tiếp triển khai hành động phô trương sức mạnh ở Biển Đông. Không phải là phô trương nữa mà đã trực diện ra đòn với ngư phủ ta, bắt thuyền giam người đi đánh cá ở xung quanh quần đảo HS thuộc chủ quyền của ta, rồi bầy trò đòi tiền chuộc (để ghép lỗi ngư dân ta đánh cá trộm trên biển của họ). Thật là vô lý.
Rồi nhiều sự kiện khác nữa trong suốt thời gian qua (như phát ngôn kỳ lạ của vị đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội hồi đầu năm 2010) càng nói lên một điều Trung Quốc không bao giờ muốn công khai vấn đề Biển Đông trước dư luận thế giới, nhất là đưa ra trước các hội nghị quốc tế.
Cho nên trước các động thái chính trị ngoại giao như vậy của phía Trung Quốc, tôi không khỏi nghĩ đến một thất bại cho Hội nghị cấp cao Asean 16 lần này tại Hà Nội nếu muốn vấn đề Biển Đông theo hướng quốc tế hóa.
Chính vì vậy hôm Thứ Sáu 9/4, nghe tin kết thúc Hội nghị cấp cao Asean 16 chỉ lướt qua các vấn đề Biển Đông khi thủ tướng nước chủ nhà họp báo được phóng viên hỏi đến, nhiều người hiểu chút về đối ngoại đã không lấy gì làm bất ngờ cả. Ván bàn này như vậy Asean vẫn chỉ “chơi” cầm chừng, nghe ngóng. Ta dù làm chủ tịch cũng phải lựa, ở thế không phải muốn làm gì cũng được đâu. Và như thế vô hình trung các nước trong hiệp hội này để Trung Quốc thắng điểm. Hay ít nhất họ có lợi thế, thực hiện được ý đồ. Là làm nhạt vấn đề. Giải tỏa vấn đề đang nóng trở nên bình thường. Biến vấn đề cần tham bàn quốc tế trở nên những vấn đề song phương từng cặp quốc gia với nhau, theo kiểu đóng cửa bảo nhau. Mà đóng cửa bảo nhau trong tương quan hiện nay giữa một quốc gia lớn mạnh như TQ với từng nước trong Asean có liên quan biển đảo với họ, thử hỏi cái tiếng nói cất lên sẽ như thế nào để tạo được sự bình đẳng thật sự? Cái chiến thuật tỉa nhỏ ra mà đánh, mà trị trong binh pháp người xưa nói ở trường hợp này đang được người TQ tận dụng.
*
Thực sự thấy buồn lo về thế sự. Nhưng may mắn thấy trên báo VietnamNet hồi này cho đăng tải nhiều bài viết về bảo vệ chủ quyền biển đảo, tôi nghĩ nhiều người cũng như tôi, thấy phấn chấn hẳn lên. Lại được đọc những lời tâm huyết của tuổi trẻ có học vấn tại cuộc gặp bàn tròn do tờ báo điện tử này tổ chức với sự tham gia của nhiều thành viên sáng lập và đóng vai trò chủ chốt của Quỹ nghiên cứu Biển Đông (South East Asian Sea Foundation), tôi thấy mừng thầm trước một đội ngũ trí thức mới ở hải ngoại (xin đọc thêm Entry va bai này: http://tuanvietnam.net/2010-04-09-tranh-tu-duy-con-da-dieu-trong-bao-ve-chu-quyen-bien-dong & http://vn.360plus.yahoo.com/nguyenvinh-nguyenvinh/article?mid=1189&prev=1211&next=1181).
Sáng kiến của các bạn trẻ này trùng khớp với ý kiến đề xuất từ khá sớm của Ts Nguyễn Quang A, mong muốn có một kiểu Quỹ dân gian về nghiên cứu Biển Đông – mà bản thân tôi đã bộc lộ ngay sự hưởng ứng trên Website trannhuong.com hồi tháng 5/2009.
Chắc chúng ta đều tin tưởng lớp trẻ được đào tạo bài bản ở trong nước rồi ra nước ngoài kể trên, với lòng yêu nước của họ, lại thiện chí sát cánh với anh chị em trong nước thì chắc chắn sẽ khơi dậy lòng nhiệt huyết với non sông đất nước hơn nữa trong lớp người trẻ. Rồi bằng các nghiên cứu khoa học và hành động thiết thực hướng về Biển Đông, một mặt lên tiếng bảo vệ chủ quyền, mặt khác góp phần với trong nước làm thức dậy thế mạnh của nền kinh tế mới hướng ra biển cả, hướng ra đại dương – một chủ đích từng nằm trong chiến lược của chính đất nước chúng ta đề ra lâu nay.
Nguyễn Vĩnh
Tin lo – tin vui
Tháng Tư 11, 2010Tin lo – tin vui
Báo chí nuớc ngoài liên tiếp đưa những tin đến “sốt ruột” và đau đầu: Máy bay chiến đấu hiện đại nhất của quân đội Trung Quốc hiện tại là J11 đã được đưa tới đảo Phú Lâm. Tham vọng vươn ra Biển Đông của Trung Quốc đâu còn là trên lý thuyết mà họ còn cố lộ ra như một sự hiển nhiên. Có thể nơi họ quá tự tin ở sức mạnh hải quân của mình tại khu vực để tự ý coi Biển Đông như một cái ao sau của Trung Quốc.
Vẫn giới truyền thông thế giới đã có lời bình luận rằng, thời gian qua Trung Quốc đã gia tăng áp lực đối với các nước đang cùng tranh chấp ở Biển Đông. Và trong thời gian tới Trung Quốc còn tiếp tục với các bước đi theo hướng này.
Trung Quốc cho rằng họ mới chỉ bố trí một lực lượng không quân còn nhỏ trên đảo Hải Nam, trong đó chỉ bao gồm những biên đội máy bay chiến đấu J8 là chưa tỏ rõ quyết tâm “giữ vững chủ quyền” trên biển khơi nên họ sẽ còn tăng cường thêm các máy bay chiến đấu, loại hiện đại nhất, như J11 và JH7A. Chúng sẽ được bố trí trên đảo Hải Nam và đảo Phú Lâm. Với bán kính tác chiến của J11 tới 1.500km, JH7A tới 1.650 km, Trung Quốc hoàn toàn có thể bao phủ tầm hoạt động trên hầu khắp Biển Đông – mà Bắc Kinh gọi là Biển Nam Trung Hoa.
Mới đây có tin Trung Quốc đã điều động số máy bay SU27 đã có sẵn tại tỉnh Quảng Đông ra hai đảo trên, sau đó tăng cường cho tỉnh này các máy bay J11 – theo họ, để cân bằng với lực lượng quân sự Việt Nam áp sát những hòn đảo trên với nhiều máy bay hiện đại thế hệ thứ ba là SU27/Su30 và Mig 29 mua của Nga.
Mặt khác Trung Quốc còn lập luận rằng trong thời gian vừa qua Việt Nam đã mua hàng loạt các máy bay chiến đấu SU30MKII và tàu ngầm Kilo cũng của Nga hiện đại tối tân hơn nữa, và lấy cớ đó tăng rất nhanh tiềm lực quân sự cho vùng biển đang tranh chấp này.
Thêm nữa Trung Quốc còn điều một số máy bay cảnh báo sớm loại KJ2000 hiện đại cho đảo Hải Nam (hiện nay đa số các máy bay cảnh báo sớm của Trung Quốc mới chỉ bố trí bên bờ eo biển Đài Loan nhằm đối phó với hòn đảo này). Tuy nhiên theo giới chức quân sự nước này, sau đây Trung Quốc sẽ chuyển hướng chiến lược, bố trí KJ2000 ra khu vực Biển Đông nhằm đối phó với tình hình nóng nếu chiến sự xảy ra.
Việc bố trí máy bay cảnh báo sớm có tác dụng và hiệu quả vô cùng to lớn do hiện tại lực lượng không quân của Việt Nam và của hai nước khác là Malaysia và Indonesia vẫn chưa có các hệ thống đối kháng tương ứng nên Trung Quốc sẽ dễ dàng chiếm được ưu thế trên không.
Còn theo các nguồn tin quân sự nước ngoài, thời gian tới Trung Quốc chắc chắn sẽ tiến hành bay diễn tập để làm quen với địa hình mới, đồng thời Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc cũng sẽ hoàn thiện các hệ thống ra-đa phòng không để nâng cao khả năng tác chiến và ứng phó với sự tấn công nếu có từ các máy bay SU27/Su30 của Việt Nam và nhiều loại không lực cường kích tiêm kích tối tân khác của Malaysia và Indonesia.
Đọc những dòng tin và nhận định này, không ai là con dân Việt mà thờ ơ cho được! Rất lo lắng là đằng khác… Nên khi biết tin hôm qua, ngày 16/3, tại công binh xưởng đóng tàu ở Cộng hòa Tatarstan thuộc Liên bang Nga đã cho hạ thuỷ chiếc “Khinh hạm thứ 2” cho lực lượng hải quân Việt Nam tất nhiên chúng ta thấy lòng mình dịu lại, như một niềm an ủi.
…Nếu ta cùng nhớ lại, hồi cuối năm ngoái thủ tướng nước ta trên đường đi dự một hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu ở Bắc Âu, ông đã thăm chính thức nước Nga để ký kết một hợp đồng về việc mua vũ khí của nước này. Trong số đó có các khinh hạm hệ Gepard 3.9 cho hải quân của nước ta. Chiếc khinh hạm đầu tiên đã được hạ thuỷ vào tháng 12/2009. Vậy nay là chiếc thứ hai.
Vẫn nguồn tin này cho biết chiếc khinh hạm đầu tiên sẽ được bàn giao cho Việt Nam vào tháng 10 và chiếc thứ 2 sẽ được bàn giao vào cuối năm nay, phát ngôn viên của công binh xưởng nói trên này đã tuyên bố như vậy. Hai khinh hạm này sẽ trải qua các cuộc chạy thử trên biển tại biển Baltic trước khi giao cho quân đội chúng ta.
Khinh hạm lớp Gepard 3.9 thuộc Dự án 1166.1 được thiết kế để tấn công và tiêu diệt các chiến hạm, tàu ngầm và các mục tiêu trên không. Nghe nói mỗi tàu có trọng tải 2.000 tấn, với chiều dài 102 mét, tốc độ tối đa 23 hải lý/giờ, thủy thủ đoàn gồm 103 người và phạm vi hoạt động tới 5.000 hải lí. Khinh hạm được trang bị một hệ thống tên lửa đối hạm Uran-E chống tàu chiến và các trang bị tác chiến mạnh mẽ khác như các ống phóng thuỷ lôi, sân đậu trực thăng hải quân Ka-28 hoặc Helix.
Như thế cùng với 6 chiếc tàu ngầm hệ Kilo và máy bay ném bom – chiến đấu hải quân Su-30MK2 được đặt mua dịp đó, hợp đồng khinh hạm lớp Gepard này được xem như là một phần trong nỗ lực hiện đại hoá hải quân của chúng ta.
*
Lâu nay nhiều tin tức gây thêm lo âu đến với chúng ta. Ai cũng biết điều hệ trọng nhất của mọi dân tộc- quốc gia luôn là chủ quyền với sự toàn vẹn lãnh thổ. Không giữ được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ thì mọi công việc quốc gia đại sự khác xem như chẳng mấy ý nghĩa nữa.
Với một đất nước trải dài và bao bọc phần nửa biên giới thông với biển khơi như chúng ta, sự mạnh mẽ của lực lượng quân sự để giành giữ độc lập chủ quyền càng là trọng trách lớn lao và vô cùng thiêng liêng.
Thế nên hiển nhiên cái dòng tin ngắn – nhưng vừa đủ các chi tiết cần biết vừa dẫn – đã làm chúng ta tạm ấm lòng chốc lát. Như sự an ủi sau bao thắc thỏm lo âu… Còn với bao người con dũng cảm đang ngày đêm vất vả phong sương nơi biển khơi thì tin này là niềm vui và nhất là tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho họ. Những ngày tháng hiện tại, càng cần tới những điều đó làm sao!
Nguyễn Vĩnh















































